0911.911.090

Cây Ba Chẽ

ây bụi nhỏ, sống lâu năm, cao 0,5 – 2m, có khi hơn. Thân tròn, phàn nhiều cành. Cảnh non mảnh, hình tam giác dẹt, uốn lượn, có cạnh và lông mềm màu trắng, sau nhắn. Lá kép mọc so le, có 3 lá chét, lá chét giữa to hơn, phiến lá chét nguyên, hình thoi, bầu dục hoãc hình trứng, gốc gần tròn hay tù, đầu nhọn ngắn, mặt trên có lông mềm màu trắng, rối nhăn, mặt dưới phủ một lớp lông tơ dày, mềm, màu trắng ánh bạc, gán bên mọc gần sít nhau; lá kèm nhò. Đặc biệt các lá non ờ ngọn phủ lớp lông tơ trắng nhiêu hơn cả hai mặt. Cụm hoa tụ họp ở kẽ lá thành chùm ngắn; lá bắc nhiều, dạng lá kèm. có lông mềm; hoa nhỏ, 10 – 20 cái, màu trắng; dài có lông mềm, chia 4 thuỳ, thùy dưới dài hơn ba thùy trên; cánh hoa có móng hẹp; bó nhị bó, bao phấn thuôn màu nâu. Quả dàu, không cuổng. có mép lươn, thắt lại ở giữa các hạt thành 2 – 3 đốt, có lông mềm màu tráng bạc; hạt 3-5, hình thận Mùa hoa: tháng 5 – 8;  mùa quả: tháng 9-11 CÂY DỄ NHẦM LẪN: Niễng cái (hàm xì, đậu ma) – Moghania macrophylla(Willd ) O. Ktze cùng họ. Cây bụi nhỏ. Lá chét có 3 gân chính hình cung xuất phát từ gốc lá. Hoa màu vàng nhat mọc thành chùm dài. Quả đậu chưa 2 hạt Kết quả hình ảnh cho Cây ba chẽ
PHÂN BỐ SINH THÁI: Desmodium Desv là một chi lớn, tổng số có khoảng 300 loài, phân bố ở vùng nhiệt đớt, cận nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ và châu Á. Ở Việt Nam, có khoảng 55 loài thuộc chi này. Tuy nhiên, gần đây có tài liệu đã tách từ Desmodium Dcsv môi chi mới là Dendrolobium(Wight & Amott) Bentharn (Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam, 1994, T.27: 62 – 70) và loài ba chẽ đươc xếp vào chi này (Dendrolobium trianlare (Retzius) Schipdlex. Cây phân bố rộng rãi ở hầu hết các tỉnh miền núi và trung du. Độ cao phân bố tới trên l000m. Ba chẽ còn có ở nhiều nước nhiệt đới Nam Á vá Đông Nam Á khác. Ba chẽ thuộc loài cây ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc trên các vùng nương rẫy cũ, ven đồi, ven các rừng thứ sinh ở vùng thấp. Cây ra hoa quả nhiều hằng năm. Khi chín, quả tự tách đôi cho hạt thoát ra ngoài. Do hạt phát tán gần, nên cây thường mọc tập trung thành những đám lớn, rộng tới vài trăm mét vuông, lấn át cả những loại cây khác. Xuất phát từ những đặc điểm này, có thề dùng ba chẽ là cây phù xanh tạm thời trên đất sau nương rãy. Thân và cành đươc sử dụng làm củi, lá làm thuốc và làm phân xanh. CÁCH TRỒNG: Ba chẽ ưa khi hậu nhiêt đới, không kén đất, trồng được cả trên các gò đồi khô hạn. Cây chưa được trồng tập trung trên diện tích lớn nhưng lại được trồng phần lớn trong các vườn thuốc ở khắp nơi. Ba chẽ được nhân giống khá dễ dàng bằng hạt hoặc bằng cành. Vào tháng 7-8, thu lấy những quả chín già (nhưng chưa tung mất hạt) đem phơi lấy hạt để đến mùa xuân thì gieo trong vườn ươm. Trồng ít có thể gieo trong chậu hoặc khay nhỏ. Khi cây cao 20 – 30cm thì đánh đi trồng. Cũng có thể dùng cành cắm xuống đất, cây vẫn mọc Nếu trồng thành luống hoặc ô thì sau khi làm đất, lên luống, trồng với khoảng cách 0.8 x 0.8m hoác 1 x l m. Có thể bón lót cho mỗi hốc 2 – 3 kg phân chuồng hoai mục. Phân được trộn đều với đất, sau đó đặt cây, lấp đất, dận chặt và tưới nước. Thời kỳ đầu cần bảo đảm đủ ẩm để cây nhanh bén rễ. Về sau không cần chăm bón nhiều. Kinh nghiệm cho thấy, bón thúc vào tháng 3 – 4 và tháng 10-11 tao thuận lợi cho cây sinh trưở0ng và qua đông tốt hơn. Ba chẽ sống khoẻ, ít bị bệnh. Mùa hè có thể bị sâu cuốn lá, sâu róm, sâu xanh, có thể diệt trừ bằng tay. Lá thu hoạch quanh năm khi cần. BỘ PHẬN DÙNG: Lá thu hái vào tháng 7-9, dùng tươi hoăc phơi sấy khô ở nhiệt độ không quá 50°C. Dược liệu được bào chế thành dạng cao nước, cao khô và dập thành viên nén. Các thí nghiêm cho thấy tác dụng kháng khuẩn của ba chẽ giảm dần theo thời gian bảo quản của nguyên liệu. Rễ cây cũng được coi là vị thuốc làm mạnh gân cốt. THÀNH PHẦN HÓA HỌC: Lá ba chẽ chứa tanin, flavonoid, acid hữu cơ và alcaloid. TÁC DỤNG DƯỢC LÝ:
  1. Trong thí nghiệm in viiro, tác dụng kháng sinh rõ rệt đối với các trực khuẩn ly: Shtgella dysenteriae, Shigella shigae. Cao nước có tác dụng manh hơn cao cồn, độ cồn của dung môi càng cao thì tác dụng kháng khuẩn càng giảm. Nó cũng có tác dụng ức chê Staphylococcus aureus,và ức chế yếu hơn đối với Sh flexneri, Sh. sonnei. Escherichia coli.
  2. Tác dụng chống viêm rõ rệt đối với cả hai giai đoạn cấp và bán cấp của phản ứng viêm thực nghiệm.
  3. Tác dựng gấy thu teo tuyến ức chuôt cống non khá mạnh.
4 Trong những thí nghiêm về độc tính cấp và bán cấp, thuốc tỏ ra không độc. 5 Lá ba chẽ, phơi hoăc sấy khô ở nhiệt độ thích hợp, lá còn giữ được màu xanh, có tác dụng kháng khuẩn tốt hơn lá phơi đến úa vàng. CÔNG DỤNG Theo kinh nghiệm nhân dân ở nhiều vùng trung du, lá ba chẽ được sử dụng chữa lỵ. Cách dùng như sau: lá hái về phơi khô hay sao vàng, mỗi ngày dùng 30 – 50g, thêm nước, đun sôi chừng 15 phút đến nửa giờ. Chia 2 – 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục từ 3- 5 ngày tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Dùng ngoài, lá ba chẽ tươi giã hay nhai nát, nuốt nước, bã đắp để chữa rắn cắn. Viên ba chẽ (bào chế từ cao lá ba chẽ) đã được nghiên cứu để chữa các bệnh ỉa chảy và ly trực khuẩn có hiệu quả. Viên ba chẽ có tác dụng chữa các chứng bệnh như lỵ trực khuẩn, hội chứng lỵ và ỉa chảy ở người lớn và trẻ em. Bệnh khỏi tương đối nhanh, thời gian chữa cũng khá ngắn. Đối với bệnh nhân ỉa chảy nặng có biểu hiện rối loạn nước và điện giải, khi điều trị bằng viên ba chẽ cũng như với các thuốc kháng sinh khác, cần phối hợp truyền dịch để hồi phục cân bằng nước và điện giải. Liều sử dụng viên ba chẽ: ngày uống 10-15 viên chia 2-3 lần sau bữa ăn (mỗi viên có 0.25g cao khô lá ba chẽ). Khi đã khỏi bệnh, nên giảm liều, rồi ngừng thuốc. Nếu dùng thời gian dài, có thể bị táo bón. Thuốc khồng gây tác dụng phụ. Liều dùng cho trẻ em được tính tùy theo tuổi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *